Song song với quyền thì việc thực hiện nghĩa vụ vô cùng quan trọng trong quan hệ dân sự. Vậy nghĩa vụ là gì? Căn cứ phát sinh nghĩa vụ theo quy định pháp luật như thế nào? Cùng Hãng luật quốc tế Bình Dương tìm hiểu ở bài viết dưới đây.

NỘI DUNG CHÍNH
Nghĩa vụ là gì?
Trong các giao dịch dân sự, các chủ thể tham gia bị ràng buộc với nhau về quyền và các nghĩa vụ tương đương. Có thể hiểu nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc nhiều hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia.
Ở Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về khái niệm nghĩa vụ tại điều 274 như sau:
“Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.
>> Xem thêm: Chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Căn cứ phát sinh nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
Căn cứ vào điều 275 Bộ luật dân sự 2015, nghĩa vụ được phát sinh từ 6 căn cứ sau đây:
- Hợp đồng: Hợp đồng sẽ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia. Đây là căn cứ hình thành nghĩa vụ.
- Hành vi pháp lý đơn phương: Đối với trường hợp này quan hệ nghĩa vụ chỉ phát sinh khi người đưa ra hành vi pháp lý đơn phương đưa ra các yêu cầu và một chủ thể nào đó phải thực hiện được yêu cầu đó. Ví dụ như hứa thưởng, thi có giải…-
- Thực hiện công việc không có ủy quyền: Thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ cho cả người thực hiện công việc và người có công việc. Nội dung này được Bộ luật dân sự quy định tại Điều 575 và Điều 576.
- Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật: Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không dựa trên những căn cứ mà luật định. Điều này làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó.
- Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật: Thực hiện hành vi trái pháp luật có gây thiệt hại thì phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đó. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Căn cứ khác do pháp luật quy định.

>> Tìm hiểu chi tiết dịch vụ luật sư tại Bình Dương chuyên nghiệp
Đối tượng của nghĩa vụ theo bộ luật dân sự 2015
Đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định trong các quan hệ dân sự. Đối tượng của nghĩa vụ bao gồm:
Tài sản, công việc phải thực hiện và công việc không được thực hiện
Tài sản
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 tài sản bao gồm:
- Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
- Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Đây là những gì các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ tác động tới để qua đó thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
Công việc phải thực hiện
Không có văn bản quy phạm pháp luật giải thích thuật ngữ “công việc phải thực hiện” là gì. Tuy nhiên, thuật ngữ “công việc” có thể hiểu là một dạng hoạt động cụ thể mà một bên mong muốn xác lập quan hệ nghĩa vụ để bên còn lại thực hiện hoạt động này. Hoạt động này có thể thông qua hoặc không thông qua hành vi cụ thể. Và qua hoạt động này, bên yêu cầu có thể thỏa mãn được các nhu cầu về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Do đó, công việc phải thực hiện được hiểu là những hoạt động thể hiện thông qua hành vi cụ thể.
Công việc không được thực hiện
Công việc không được thực hiện là những hoạt động không thông qua hành vi – tức là thể hiện dưới dạng không hành động cụ thể. Hoạt động này cũng sẽ là đối tượng của quan hệ nghĩa vụ khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định mà thông qua hoạt động này, một trong các bên có được những quyền và lợi ích của mình.
Đối tượng nghĩa vụ phải được xác định
Một trong những nguyên tắc để thực hiện được quyền và nghĩa vụ từ sự thỏa thuận hoặc pháp luật của các bên, đối tượng là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện cần phải xác định được một cách rõ ràng. Điều này hoàn toàn là sự phù hợp, khi đối tượng không thể xác định thì các bên chủ thể không thể tác động vào đó để thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của mình. Đồng thời, các bên chủ thể càng không thể tạo ra các quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể.
Địa điểm thực hiện nghĩa vụ
Điều 277. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ
1. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận.
2. Trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ được xác định như sau:
a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản;
b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.
Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Thời hạn thực hiện nghĩa vụ
1. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định khác.
Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.
3. Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.
Trên đây là nội dung tư vấn của Hãng luật Quốc tế Bình Dương về căn cứ phát sinh nghĩa vụ. Hy vọng bài viết trên đây sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về vấn đề nêu trên. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác vui lòng liên hệ đến số Hotline: 0941 969 396 hoặc website: https://hangluatquoctebinhduong.com/ để được giải đáp nhé!

