Chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

chiem-huu-co-can-cu-phap-luat-khong-co-can-cu-phap-luat

Việc xác định hai trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có căn cứ pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để xác định quyền, nghĩa vụ của người chiếm hữu. Hãy cùng Hãng luật Quốc tế Bình Dương tìm hiểu về chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có căn cứ pháp luật ở dưới bài viết dưới đây nhé!

chiem-huu-co-can-cu-phap-luat-khong-co-can-cu-phap-luat
Tìm hiểu chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có căn cứ pháp luật.

NỘI DUNG CHÍNH

Chiếm hữu là gì?

Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.

Chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản có thể là chủ sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu ủy quyền, người có quyền chiếm hữu tài sản thông qua một giao dịch dân sự hợp pháp,..

Chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản bằng hành vi của mình thực hiện trực tiếp hoặc thực hiện việc chiếm hữu thông qua hành vi của người khác.

Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.

Chiếm hữu có căn cứ pháp luật theo quy định Bộ luật dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự 2015 thì chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:

  • Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản.
  • Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản.
  • Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật.
  • Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, quy định khác của pháp luật có liên quan.
  • Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan.
  • Trường hợp khác do pháp luật quy định.

>> Tư vấn pháp luật tại dịch vụ luật sư tại Bình Dương uy tín

Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật theo quy định Bộ luật dân sự

Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu đối với một tài sản không dựa trên những căn cứ của pháp luật quy định. Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật thì được coi là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Dựa vào ý chỉ của chủ thể chiếm hữu tài sản mà luật dân sự phân thành: Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình.

van-phong-luat-su-chuyen-nghiep
Đội ngũ luật sư tư vấn về vấn đề chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có pháp luật chuyên nghiệp.

Nghĩa vụ của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

Đối với nghĩa vụ của người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật ta có thể chia thành các trường hợp sau đây:

Trường hợp một: Người chiếm hữu, sử dụng ngay tình

Nếu người chiếm hữu, sử dụng tài sản chưa làm hư hỏng phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu trong tình trạng chủ sở hữu phát hiện được hoặc người chiếm hữu, sử dụng biết được hoặc phải biết mình đang chiếm hữu tài sản của người khác

Khi trả lại tài sản, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng đó là không có căn cứ pháp luật

Nếu người đó cố tình chiếm hữu, sử dụng tài sản phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản kể từ thời điểm chiếm hữu và bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu (nếu có). Trường hợp này, hành vi của người chiếm hữu, sử dụng là ngay tình nhưng do cố ý chiếm hữu, sử dụng tài sản nên đã trở thành không ngay tình.

Trường hợp hai: Nghĩa vụ của người chiếm hữu, sử dụng tài sản không ngay tình

Chiếm hữu, sử dụng tài sản không ngay tình là việc chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Người có hành vi trái pháp luật phải khắc phục hậu quả cho người chủ sở hữu tài sản. Ngài việc phải trả lại tài sản như trong tình trạng mình chiếm hữu bất hợp pháp còn phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó trong suốt cả thời gian chiếm hữu, sử dụng.

Nếu do việc chiếm hữu bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra.

>> Hãng Luật Quốc Tế Bình Dương chuyên dịch vụ luật sư tại TP.HCM chính xác

Quyền của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

  • Quyền xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu chiếm hữu: Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác (Điều 236 Bộ luật dân sự 2015)
  • Quyền được thanh toán chi phí đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị tài sản trong trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình khi chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, người bị thiệt hại được hoàn trả tài sản (Điều 583 Bộ luật dân sự 2015)
chiem-huu-khong-co-can-cu-phap-luat
Quyền và nghĩa vụ của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của Hãng luật Quốc tế Bình Dương về chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có căn cứ pháp luật. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật qua số Hotline: 0941 969 396 để được giải đáp!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!